• tong quan
  • dang ky kham
  • hoi dap
  • nhat ky benh vien
  • Thong tin benh vien Quoc te Thai Hoa
pin
cap cuu
Chăm sóc khách hàng: (067) 3 878 878 / (067) 3 878 006

Kế hoạch hóa gia đình và Những điều cần biết

| 03:56 13/08/2020 | 275

1. Bạn có chắc là mình đã hiểu đúng khái niệm KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH?

     - Kế hoạch hóa gia đình là gì?

Trả lời: Theo Y học hiện đại, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) là sự cố gắng có ý thức của một cặp (hoặc cá nhân) nhằm điều chỉnh số con và khoảng cách sinh con. 

     - Vậy hiểu như thế nào mới là đúng về Kế hoạch hóa gia đình?

Trả lời: Theo định nghĩa trên, kế hoạch hóa gia đình phải bao hàm luôn cả làm giảm số lượt sinh bằng các biện pháp phòng tránh thai, đình chỉ thai và làm tăng số lượt sinh bằng các biện pháp hỗ trợ sinh sản (nhất là ở các cặp đôi hiếm muộn).  

     - Tại sao trong cộng đồng lại có suy nghĩ “KHHGĐ là phòng ngừa thai”?

Trả lời: Đó là bởi vì việc kế hoạch hóa gia đình ở nước ta và các nước đang phát triển khác, do tỷ lệ gia tăng dân số qua từng năm luôn cao nên việc kiềm hãm tốc độ này lại được quan tâm sâu sát, các biện pháp thực hiện đều tập trung theo hướng này, dẫn đến khái niệm “kế hoạch hóa gia đình” từ trước đến nay luôn gắn liền với các biện pháp phòng tránh thai và đình chỉ thai. Trong khi hiểu đúng và hiểu đủ về khái niệm này, sẽ phải bao hàm việc làm giảm và làm tăng số lượt sinh, như đã nêu.

2. Tiến trình lịch sử của Kế hoạch hóa gia đình:

Cách đây hơn nửa thế kỷ tại Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở thủ đô Tehran của Iran (năm 1968), lần đầu tiên kế hoạch hóa gia đình được khẳng định là một quyền của con người. Hơn 50 năm qua, hàng tỷ người trên thế giới đã được hưởng quyền cơ bản này, sinh sản có kế hoạch, góp phần cải thiện số phận từng người, từng gia đình và cả sự phát triển bền vững của Trái đất. Tuy nhiên, kế hoạch hóa gia đình vẫn chưa thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ cho mọi người.

Còn ở Việt Nam, do sớm nhận thức được tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngay từ năm 1961, Hội đồng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định 216/CP về việc "sinh đẻ có hướng dẫn" và giao Bộ Y tế trách nhiệm "cung cấp với giá rẻ, một cách dễ dàng và thuận lợi nhất cho những người cần dùng phương tiện có liên quan đến việc sinh đẻ có hướng dẫn". Như vậy, thực chất, ngay từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã trao quyền kế hoạch hóa gia đình cho công dân và hơn nữa còn mong muốn tạo điều kiện "dễ dàng và thuận lợi nhất" để người dân thực hiện được quyền này. Gần 60 năm qua, giải pháp cơ bản, xuyên suốt, nhất quán để thực hiện quyền kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam là tuyên truyền, vận động đi trước; gắn liền với đưa phương tiện, dịch vụ tránh thai đến tận người dân; có chính sách khuyến khích từng cặp vợ chồng, từng gia đình, từng địa phương, từng cơ quan tích cực tham gia công tác kế hoạch hoá gia đình.

Với chính sách đúng đắn, triển khai tích cực và sáng tạo, Chương trình kế hoạch hóa gia đình đã thu được những thành tựu nổi bật. Nếu những năm 1965-1969, chỉ có khoảng 15% số cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai thì bước sang thế kỷ 21, tỷ lệ này đã tăng gấp 5 lần, đạt khoảng 75% và duy trì từ đó đến nay. Nhờ vậy, mức sinh của Việt Nam giảm nhanh, hiện đã đạt mức thấp. Những năm 1965-1969, tính đến hết độ tuổi sinh đẻ, trung bình mỗi phụ nữ có gần 7 con thì hiện nay mô hình "gia đình 2 con" đang trở nên phổ biến.

Mục tiêu mà Chương trình kế hoạch hóa gia đình theo đuổi suốt nửa thế kỷ qua đã đạt được một cách vững chắc. Như vậy, kế hoạch hóa gia đình đã giúp phụ nữ, giúp các cặp vợ chồng có số con như mong muốn và việc sinh đẻ đã chuyển từ hành vi mang tính tự nhiên, bản năng sang hành vi có kế hoạch, văn minh; từ bị động sang chủ động; từ số lượng con nhiều, chất lượng thấp sang số con ít, chất lượng cao hơn; từ sinh đẻ ít trách nhiệm sang sinh đẻ có trách nhiệm đầy đủ hơn. Sinh đẻ ít nên dân số tăng chậm lại, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đây thực sự là một trong những biến đổi xã hội sâu sắc nhất của nước ta trong nửa thế kỷ qua. Ghi nhận thành công này, ngay từ năm 1999, Liên Hợp Quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam.

Ngày nay, trên thế giới vẫn còn tới hơn 200 triệu phụ nữ có nhu cầu tránh thai nhưng chưa tiếp cận được phương tiện và dịch vụ tránh thai có chất lượng. Điều này dẫn tới hoặc là sinh con ngoài ý muốn, hoặc là phá thai và các hậu quả khác về sức khỏe sinh sản; ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của gia đình, của mỗi người, đặc biệt là đối với phụ nữ và vị thành niên.

3. Kế hoạch hóa gia đình trong đời sống có ảnh hưởng như thế nào?

Trên thực tế, việc áp dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực cho cộng đồng, xã hội.

     - Cung cấp kiến thức đúng và đủ về sức khỏe sinh sản cho cộng đồng. Sinh đẻ luôn là vấn đề trọng tâm của Kế hoạch hóa gia đình. KHHGĐ cho phép mọi người đạt được số con mong muốn và xác định khoảng cách của mang thai qua việc sử dụng các phương pháp tránh thai và điều trị vô sinh.

     - Bảo vệ sức khỏe cho các đối tượng được tiếp cận KHHGĐ. Từ những kiến thức về sức khỏe sinh sản, các đối tượng trong cộng đồng sẽ có được một sức khỏe tốt để sinh hoạt, làm việc và học tập. KHHGĐ sẽ hướng dẫn kiến thức về giới và giới tính, về sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn cho các đối tượng thanh thiếu niên, hướng dẫn các cặp vợ chồng sinh đẻ có kế hoạch phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện. Ngoài ra, đối với những người từ 40 tuổi trở lên, sẽ biết những nguy cơ có thể gặp phải khi sinh con ở độ tuổi này, khi được tiếp cận với KHHGĐ.

     - Hướng đến một xã hội ấm no, hạnh phúc. KHHGĐ góp phần giảm gia tăng dân số, giúp ngăn ngừa lây truyền các bệnh lây qua đường tình dục như lậu, giang mai, HIV/AIDS... Từ đó tạo nên một xã hội phát triển ổn định, bền vững.

​4. Những biện pháp chủ yếu trong Kế hoạch hóa gia đình:

Như đã chia sẻ, Kế hoạch hóa gia đình phải bao hàm luôn cả làm giảm số lượt sinh bằng các biện pháp tránh thai, đình chỉ thai và làm tăng số lượt sinh bằng các biện pháp hỗ trợ sinh sản (nhất là ở các cặp đôi hiếm muộn). Cho nên nội dung này sẽ bao gồm 3 phần chính:

     ♦ Phòng tránh thai

     ♦ Đình chỉ thai

     ♦ Hỗ trợ sinh sản

     ------------------------

     4.1 PHÒNG TRÁNH THAI:

     - Phòng tránh thai là gì? Hiểu như thế nào là đúng?

Theo định nghĩa y khoa, tránh thai hoặc ngừa thai là việc sử dụng các thiết bị khác nhau, cách sinh hoạt tình dục phù hợp hoặc kỹ thuật, hóa chất, thuốc và/hoặc kèm theo các phương pháp phẫu thuật nhằm mục đích tránh mang thai theo ý muốn trong khi quan hệ tình dục.

Còn hiểu một cách đơn giản, đó là các biện pháp được thực hiện nhằm ngăn cản không cho tinh trùng (của người đàn ông) gặp trứng (của người phụ nữ), không để cho quá trình thụ thai được xảy ra. Những biện pháp phòng tránh được thực hiện kể từ khi quan hệ tình dục cho đến khi hình thành nên hợp tử, đều được xem là các biện pháp tránh thai hoặc ngừa thai.

Để phòng tránh thai đúng cách và hiệu quả, chúng ta cần phải hiểu cách một bào thai được hình thành là như thế nào.

+ Đầu tiên thông qua quan hệ tình dục, người đàn ông sẽ xuất tinh vào âm đạo của người phụ nữ. Khi xuất tinh, người đàn ông thường phóng vào âm đạo của người phụ nữ từ 40 đến 300 triệu tinh trùng. Tại âm đạo, các tinh binh sẽ bắt đầu xuất phát tại những vị trí khác nhau để đi tìm trứng. Theo tính toán, cần từ 45 phút đến khoảng 2 giờ đồng hồ để xảy ra điều này, kể từ khi nam giới xuất tinh. Trong thời gian này, nếu như nữ giới rụng trứng thì trứng có thể được thụ thai.

+ Còn nếu quan hệ tình dục không phải thời điểm rụng trứng thì khả năng thụ thai vẫy xảy ra. Do sức sống của tinh trùng vào khoảng 3 – 5 ngày khi ở trong tử cung của người phụ nữ, nên nguy cơ xảy ra thụ thai sau khi quan hệ vẫn còn.

+ Khi tinh trùng gặp trứng không có nghĩa là chúng đã kết hợp được với nhau ngay, mà tinh trùng còn phải “phá vỏ trứng” để chui vào bằng cách tiết một hoạt chất để bào mòn lớp vỏ. Chỉ một tinh trùng khỏe nhất có thể vào trong. Sau đó, trứng sẽ tiết ra chất làm lớp vỏ cứng lại để không còn tinh trùng khác chui vào. Đến đây thì quá trình thụ thai xem như thành công.

+ Sau khi vào được bên trong trứng, tinh trùng sẽ kết hợp với trứng để tạo thành hợp tử và di chuyển xuống làm tổ bên trong tử cung, nơi nó nhận được đầy đủ chất dinh dưỡng để phát triển dần thành em bé.

Dựa trên cơ chế thụ thai, chúng ta sẽ tìm ra các giải pháp ngăn chặn quá trình này được thực hiện, nghĩa là tìm mọi cách để ngăn không cho trứng và tinh trùng gặp nhau.

     - Các phương pháp phòng tránh thai:

+ Thuốc tránh thai: Được sử dụng như là một biện pháp dành cho tất cả phụ nữ muốn sử dụng một biện pháp tránh thai tạm thời, hiệu quả cao và không có chống chỉ định.

Hình thức phổ biến có 2 loại, là sử dụng viên tránh thai đơn thuần (dạng vỉ 28 viên) và viên tránh thai khẩn cấp. Trong đó, viên thuốc tránh thai khẩn cấp, còn gọi là viên thuốc tránh thai sáng hôm sau, thường được sử dụng trong trường hợp giao hợp không được bảo vệ hoặc bị cưỡng dâm.

+ Đặt vòng (tránh thai): Đây được xem là một trong những biện pháp tránh thai có hiệu quả cao và được sử dụng rộng rãi nhất, đã được khẳng định là và công nhận để sử dụng rộng rãi.

Ưu điểm của phương pháp này là có hiệu quả cao, đặt biệt là loại chữ T (có tỷ lệ thất bại dưới 1%), dễ sử dụng, kinh tế, không ảnh hưởng đến sức khỏe, thời gian tránh thai lâu dài (thường từ 10 – 12 năm), dễ có thai lại nếu như tháo. Ngoài các tác dụng chính là ngừa thai, còn giúp cải thiện tình trạng kinh nguyệt nhiều, giúp giảm tình trạng đau bụng kinh và có khả năng hạn chế được nguy cơ bị viêm vòi trứng, đặt vòng tránh thai cũng là cách giúp quan hệ vợ chồng được “thật” hơn so với các phương pháp tránh thai khác như dùng bao cao su.

+ Bao cao su: Cùng với thuốc tránh thai, đặt vòng tránh thai, thì đây là một trong các biện pháp phổ biến nhất và được sử dụng rộng rãi. Về cơ chế, bao cao su tương tự như đặt vòng, bằng cách ngăn cho tinh trùng và trứng không gập nhau. Có 2 loại là bao cao su cho nam và bao cao su cho nữ.

+ Tính vòng kinh bằng phương pháp Ogino-Knausslà phương pháp tránh thai cổ điển và hiện nay vẫn là một trong những phương pháp được quan tâm. Phương pháp này dựa vào hiện tượng phóng noãn. Cụ thể, người ta ước tính thời gian có thể thụ tinh của noãn khoảng 10 – 24 giờ, thời gian thụ tinh của tinh trùng trong đường sinh dục nữ là 48 giờ. Vì vậy muốn tránh thai thì cần tránh giao hợp trước khi dự kiến có phóng noãn 2 ngày và sau phóng noãn 1 ngày. Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại dao động từ 2-21%.

+ Xuất tinh ngoài âm đạoXuất tinh ra ngoài âm đạo để không cho tinh trùng vào trong âm đạo để gặp trứng thụ tinh, do đó còn gọi là phương pháp giao hợp ngắt quãng. Hiện nay nhiều cặp vợ chồng sử dụng phương pháp này. Tuy nhiên, tỷ lệ thất bại khá cao, khoảng 24%.

+ Cho bú vô kinhCó thể áp dụng ở những phụ nữ cho con bú hoàn toàn, chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi. Hiệu quả tránh thai có thể tới 98%. Biện pháp dựa trên cơ sở trẻ bú mẹ tác động lên vùng dưới đồi, ảnh hưởng đến mức độ và nhịp điệu của sự tiết các hormon giải phóng, ức chế sự phóng noãn.

Đây là phương pháp tránh thai rất được khuyến khích ở các nước đang phát triển.

+ Thuốc cấy tránh thaiBiện pháp này là dùng một hay nhiều que nhỏ như que diêm chứa hormone progesterone cấy vào dưới da. Sau khi được cấy, các que cấy sẽ phóng thích dần dần lượng hormone vào cơ thể tạo ra tác dụng ngừa thai kéo dài.

Hiện tại thuốc cấy này có 2 loại: Norplant có tác dụng tránh thai khoảng 5 năm và Implanon có tác dụng khoảng 3 năm.

+ Miếng dán ngừa thaiThay vì phải uống thuốc hằng ngày, những phụ nữ muốn tránh thai chỉ cần dùng 3 miếng dán trong một tháng. Ưu điểm của phương pháp tránh thai bằng miếng dán là rất tiện lợi, giúp phụ nữ tránh được nỗi phiền toái phải uống thuốc hằng ngày, dễ quên. Nhưng nhược điểm là người dùng có thể quên thay và gỡ bỏ miếng dán đúng thời điểm. Thuốc có thể ảnh hưởng thị lực của người đeo kính áp tròng.

+ Thuốc tiêm tránh thaiChỉ định cho những người phụ nữ muốn dùng biện pháp tránh thai dài hạn, có hồi phục, hiệu quả cao mà không phải dùng thuốc hàng ngày. Ưu điểm là hiệu quả cao, có tác dụng lâu dài, có thể hồi phục lại khả năng sinh sản mà không ảnh hưởng nhiều đến tim mạch, thích hợp cho phụ nữ trên 35 tuổi phải đề phòng với estrogen.

+ Mũ cổ tử cung, màng ngăn âm đạoSử dụng 1 dụng cụ làm bằng kim khí hoặc chất dẻo để ngăn cản không cho tinh trùng vào tử cung. Tỷ lệ thất bại của màng ngăn âm đạo, mũ cổ tử cung gần 20% cho mỗi loại. Các phương pháp này hiện nay rất ít được sử dụng.

+ Thuốc diệt tinh trùngcác loại chất có tác dụng hoá học để diệt hoặc làm mất khả năng di chuyển của tinh trùng. Ngoài ra nó có tác dụng như một dung môi tạo nên màng chắn, hoặc tạo bọt nhằm đẩy tinh trùng ra xa cổ tử cung.

+ Đình sảnLà biện pháp can thiệp bằng phẫu thuật, tỷ lệ tránh thai gần như 100% nhưng khó có con trở lại. Tương tự như bao cao su, cũng có 2 loại, 1 loại dành cho nam và 1 loại dành cho nữ. Trong đó, đình sản nữ là làm tắc vòi tử cung, ngăn cản vĩnh viễn không cho tinh trùng và trứng gặp nhau để thụ tinh. Còn đình sản nam là thắt ống dẫn tinh.

     4.2 ĐÌNH CHỈ THAI:

     - Đình chỉ thai là gì? Hiểu như thế nào cho đúng?

Đỉnh chỉ thai hay còn gọi là phá thai, là thuật ngữ y khoa chỉ về việc sử dụng các biện pháp bên ngoài để can thiệp vào quá trình mang thai nhằm chấm dứt sự sống của thai nhi.

     - Đình chỉ thai có được pháp luật cho phép không?

Hiện nay phá thai ở Việt Nam là hợp pháp và bộ y tế cho phép phá thai ngoài ý muốn là đến hết 22 tuần vô kinh.

     - Khi nào thì được đình chỉ thai?

Các lý do bắt buộc để đình chỉ thai điển hình là:

+ Mang thai ngoài ý muốn

+ Thai phụ vì lý do nào đó không thể mang thai và sinh con

+ Người bị xâm hại.

+ Các trường hợp do bác sĩ chỉ định như: thai nằm ngoài tử cung, thai chết lưu, không có tim thai, phát hiện thai nhi bị dị tật bẩm sinh, v.v…

     - Đình chỉ thai có nguy hiểm không?

Đình chỉ thai có thể có những biến chứng trước và sau khi thực hiện. Vì vậy, quá trình đình chỉ thai cần phải được thực hiện tại những cơ sở y tế chuyên khoa uy tín, với trang thiết bị y tế đầ y đủ hiện đại, được vô trùng sạch sẽ, bác sĩ là những người có kinh nghiệm chuyên môn,…

     - Các phương pháp đình chỉ thai kỳ:

+ Phá thai nội khoa (phá thai bằng thuốc): Phương pháp phá thai bằng thuốc thường có mức chi phí thấp nhất trong những phương pháp phá thai hiện nay. Áp dụng cho thai nhi dưới 7 tuần tuổi, nhưng sẽ được các bác sĩ cân nhắc thực hiện tùy thuộc vào sức khỏe thai thụ và độ tuổi, kích thước thai nhi.

Cách thức thực hiện: sản phụ được cho uống một viên có tác dụng chấm dứt thai kỳ, làm bong tróc túi thai ra khỏi niêm mạc. Tùy vào cơ địa và sức khỏe của mỗi chị em mà có thể cảm thấy bình thường hoặc ra máu âm đạo. Chị em sẽ về nhà sau khi uống viên thuốc này.

+ Hút thai chân không: Thường áp dụng cho thai dưới 12 tuần tuổi.

Trong đó, các bác sĩ đưa dụng cụ hút thai là 1 ống nhựa nhỏ đã được vô trùng vào trong tử cung để hút phôi thai ra ngoài. Thời gian thực hiện thường từ 15 đến 20 phút. Lúc này, tử cung co bóp và chịu tác động, do đó có thể gây đau đớn cho chị em. Tùy vào cơ địa từng người, mức độ đau sẽ khác nhau.

+ Phá thai bằng nong – nạo: Thường áp dụng cho thai từ 8 – 12 tuần tuổi.

Trong đó, các bác sĩ sẽ dùng những dụng cụ y tế chuyên dụng, đã vô trùng kĩ lưỡng để nạo vét, lấy hết phôi thai, nhau thai từ trong tử cung thai phụ ra ngoài.

Nạo thai là phương pháp đã xuất hiện từ lâu, là phương pháp truyền thống được khá nhiều các bệnh viện lớn hiện nay áp dụng. Nếu như trước đây, chị em đi phá thai bằng phương pháp nạo thai truyền thống thường phải đối mặt với các biến chứng như: nhiễm trùng, thủng - rách tử cung, tắc ống dẫn chứng, vô sinh hoặc thậm chí nguy hiểm đến tính mạng,... thì hiện nay, phương pháp nạo thai hiện đại đã ra đời và khắc phụ hầu hết các nhược điểm để trên.

+ Phá thai bằng nong – gắp: Thường áp dụng cho thai từ 13 – 18 tuần tuổi.

Phá thai bằng phương pháp nong và gắp thai là cách chấm dứt thai kỳ bằng cách sử dụng thuốc Misoprostol và que nong để chuẩn bị cổ tử cung. Sau đó bác sĩ sẽ dùng bơm hút chân không kết hợp với kẹp để gắp thai ra ngoài.

Đình chỉ thai ảnh hưởng trực tiếp đến sinh lý và cả tâm lý cho người phụ nữ. Vì vậy, trước khi thực hiện, người phụ nữ cần phải thảo luận kỹ với bác sĩ về quyết định chấm dứt thai kỳ.

Đối với các bác sĩ, cần nói rõ sự nguy hiểm và những tai biến có thể xảy ra trong lúc nạo phá thai và những hậu quả của nó. Sau khi nạo phá thai, cần nói rõ các dấu hiệu nguy hiểm cho khách hàng biết để đến khám ngay, tránh tình trạng chậm trễ gây hậu quả nghiêm trọng cho tính mạng của khách hàng. Cần thông tin về các biện pháp tránh thai, hướng dẫn lựa chọn biện pháp thích hợp và sử dụng đúng, để tránh có thai ngoài ý muốn. Nói rõ các dấu hiệu có thai sớm để khách hàng nhận biết, hạn chế các trường hợp phá thai lớn gây hậu quả nghiêm trọng.

4.3 HỖ TRỢ SINH SẢN:

     - Hỗ trợ sinh sản là gì? Hiểu như thế nào cho đúng?

Hỗ trợ sinh sản là một phần của Kế hoạch hóa gia đình, theo khái niệm của Y học hiện đại. 

Trái ngược với các biện pháp phòng tránh thai, đình chỉ thai (phá thai) nhằm làm giảm lượt sinh, thì các biện pháp hỗ trợ sinh sản có tác dụng làm tăng số lượt sinh trong cộng đồng, đặc biệt là đối với các cặp đôi vô sinh, hiếm muộn. 

Trong đó, hỗ trợ sinh sản là những kỹ thuật y học mới, được sử dụng trong điều trị vô sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, được xem là một trong những tiến bộ kỳ diệu của y học trong vài chục năm trở lại đây.

     - Hỗ trợ sinh sản có dễ thực hiện không?

Hỗ trợ sinh sản đòi hỏi công nghệ cao, điều kiện trang thiết bị máy móc kỹ thuật hiện đại cùng đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn đặc thù. Vì vậy, cần phải được thực hiện ở những cơ sở y tế có uy tín, đáng tin cậy. 

     - Nguyên tắc chung của các phương pháp này là gì?

Nguyên tắc chung của các phương pháp hỗ trợ sinh sản là hỗ trợ quá trình có thai tự nhiên bằng cách:

  ► Chuẩn bị noãn và tinh trùng

  ► Tạo điều kiện để tinh trùng và noãn gặp nhau tạo thành phôi

  ► Tạo điều kiện để phôi làm tổ trên niêm mạc buồng tử cung

Từ đó tùy vào nguyên nhân mà thầy thuốc lựa chọn phương pháp thích hợp cho mỗi cặp đôi.

     - Các phương pháp hỗ trợ sinh sản:

+ Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI): Áp dụng khi người nam có tinh trùng yếu mức độ trung bình, nhẹ hoặc người nữ bị rối loạn phóng noãn hoặc cổ tử cung có chất nhầy khiến tinh trùng khó di chuyển. 

Với phương pháp này, người nữ sẽ được kích thích buồng trứng để noãn phát triển. Sau đó kích thích phóng noãn, đồng thời lọc rửa tinh trùng rồi bơm vào buồng tử cung. 

+ Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF): Áp dụng khi người nam có tinh trùng dị dạng, yếu, ít hoặc người nữ bị tắc hai vòi trứng hoặc vô sinh không rõ nguyên nhân sau khi đã nội soi ổ bụng hai năm và làm IUI 3-6 lần không đạt kết quả. 

Cách thực hiện là chọc hút một hay nhiều noãn đã trưởng thành từ buồng trứng để thụ tinh với tinh trùng trong phòng thí nghiệm. Sau khi trứng đã thành phôi, chuyển phôi tốt vào buồng tử cung để phôi làm tổ và phát triển thành thai. Tỉ lệ có thai thay đổi tùy theo trung tâm.

Tiêm tinh trùng vào noãn (ICSI): Áp dụng khi người nam không lấy được tinh trùng hay không có tinh trùng do bị tắc ống dẫn tinh bấm sinh, thắt ống dẫn tinh. 

Cách thức thực hiện như sau: noãn sau khi hút ra, được tách lớp tế bào hạt xung quanh, sau đó chọn những tinh trùng khỏe nhất, di động tốt nhất, cố định chúng, hút vào một kim thủy tinh để bơm vào noãn. Có 3 phương pháp: tiêm 1 tinh trùng vào trong bào tương, tiêm 1 - 2 tinh trùng qua màng trong suốt nhưng ngoài bào tương và cuối cùng là làm thủng màng trong suốt để tinh trùng chui qua lỗ thủng vào trong bào tương thụ tinh. 

 

Ban Biên tập

Bài được xem nhiều gần đây


Notice: Undefined variable: date in /home/nhvuoosq/public_html/benhvienthaihoa.com/application/modules/administrator/models/News.php on line 229